truc tiep bong da tv

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 26/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về truc tiep bong da tv

xem truc tuyen bong da

Chen Wei Ma Lingfei

Bệnh viện Taizhou, tỉnh Chiết Giang, thành phố Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang 317000

【Tóm tắt】 Mục tiêu: Khám phá tác dụng phòng ngừa của sufentanil liều thấp đối với ớn lạnh và đau do kéo khi gây mê mổ lấy thai. Phương pháp: Chọn 100 phụ nữ đã mổ lấy thai tại bệnh viện của chúng tôi, và chia họ thành nhóm nghiên cứu và nhóm chứng. Nhóm đối chứng được gây tê tủy sống-ngoài màng cứng kết hợp thông thường, và nhóm nghiên cứu được dùng sufentanil liều thấp trên cơ sở này. Kết quả: Tỷ lệ đau do lực kéo ở nhóm nghiên cứu là 28,00%, thấp hơn đáng kể so với 56,00% ở nhóm chứng (P <0,05); tỷ lệ ớn lạnh ở nhóm nghiên cứu là 12,00%, thấp hơn đáng kể so với 40,00 % ở nhóm chứng (P <0,05)). Kết luận: Sufentanil liều thấp có thể làm giảm hiệu quả tình trạng ớn lạnh và đau do kéo trong khi gây mê mổ lấy thai.

Mạng Tạp chí Giáo dục http://www.jyqkw.com
Từ khóa liều thấp; sufentanil; mổ lấy thai; ớn lạnh; đau do kéo

Sinh mổ là một trong những thủ thuật phổ biến trong phụ khoa lâm sàng, và gây tê tủy sống là một phương pháp gây mê phổ biến.Tuy nhiên, trên lâm sàng đã thấy rằng các loại thuốc gây mê khác nhau và liều lượng áp dụng cũng có tác động khác nhau đến tỷ lệ đau do va chạm và ớn lạnh sau mổ lấy thai.[1]. Sufentanil là thuốc giảm đau opioid mạnh có đặc tính tan trong chất béo mạnh, tác dụng ổn định và lâu dài. Bệnh viện của chúng tôi đã áp dụng sufentanil liều thấp cho 50 bệnh nhân mổ lấy thai từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014, đã làm giảm hiệu quả tỷ lệ đau do kéo và ớn lạnh, và hiệu quả đáng kể được báo cáo như sau.

1 Vật liệu và phương pháp

1.1 Dữ liệu lâm sàng

Chúng tôi chọn 100 phụ nữ mổ lấy thai tại bệnh viện của chúng tôi từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014, và chia họ thành nhóm nghiên cứu và nhóm chứng theo phương pháp bảng số ngẫu nhiên. Tiêu chuẩn đưa vào: Phân loại ASA là Ⅰ ~ Ⅱ; thai đủ tháng, không có bất thường khi khám trước phẫu thuật. Tiêu chuẩn loại trừ: chống chỉ định gây tê nội tủy; tiền sử dị ứng và lạm dụng thuốc; suy thai và tăng huyết áp trong thai kỳ; có kèm theo các bệnh về gan, phổi, tim, thận và các cơ quan khác. Nhóm nghiên cứu: 20-35 tuổi, tuổi trung bình (26,5 ± 1,5) tuổi; cân nặng 50-83kg, cân nặng trung bình (63,2 ± 4,5) kg. Nhóm chứng: 20-36 tuổi, tuổi trung bình (26,3 ± 1,7) tuổi; cân nặng 51-83kg, cân nặng trung bình (63,3 ± 4,2) kg. Trong so sánh chung, sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (P> 0,05).

1.2 Phương pháp

Sau khi bệnh nhân vào phòng mổ, đường vào tĩnh mạch được mở, cho thở oxy và theo dõi những thay đổi của các dấu hiệu sinh tồn. Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm nghiêng bên trái, và tiến hành chọc dò vào khoang 2 ~ 3 của cột sống thắt lưng, đồng thời tiến hành gây tê tủy sống-ngoài màng cứng. Trong nhóm đối chứng, 10-12 mg ropivacain 0,75% được sử dụng trong khi gây mê, và dịch não tủy được pha loãng đến 0,5%; trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu được tiêm 5μg sufentanil vào khoang ngoài màng cứng; sau khi hoàn thành, quan sát chặt chẽ nhịp tim của người mẹ thay đổi Nếu nhịp tim dưới 50 nhịp / phút, tiêm 5-10mg ephedrin.

1.3 Phương pháp quan sát

Quan sát và so sánh tỷ lệ đau do va chạm và ớn lạnh giữa hai nhóm trước và sau khi mổ. Tiêu chuẩn chấm điểm cơn đau do lực kéo: không đau, điểm 0; đau nhẹ, chịu được, không ảnh hưởng đến giấc ngủ điểm 1; đau vừa, cần can thiệp giảm đau, ảnh hưởng đến điểm ngủ 2 điểm; đau mạnh, tư thế thụ động, tác động nghiêm trọng đến Giấc ngủ, có thể bị kèm theo rối loạn chức năng tự chủ, điểm 3 điểm; cực kỳ đau đớn, không dung nạp được 4 điểm. Tiêu chí chấm điểm đối với run: 0 điểm nếu không run; 1 điểm cho ớn lạnh ở cổ hoặc mặt với các cơ nhẹ; 2 điểm cho run các nhóm cơ; 3 điểm cho run toàn thân hoặc nhiều cơ.

1.4 Thống kê

Phân tích và thống kê được thực hiện bằng phần mềm spss13.0, số liệu đếm được biểu thị bằng tỷ lệ (%), việc so sánh giữa các nhóm được thực hiện bằng phép thử x2 và P <0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.

2 kết quả

2.1 So sánh tỷ lệ đau do lực kéo giữa hai nhóm Tỷ lệ bị đau do lực kéo ở nhóm nghiên cứu là 28,00%, thấp hơn có ý nghĩa so với 56,00% ở nhóm chứng (P <0,05). Xem Bảng 1.

2.2 So sánh tỷ lệ run của hai nhóm bệnh nhân Tỷ lệ run của nhóm nghiên cứu là 12,00%, thấp hơn có ý nghĩa so với 40,00% ở nhóm chứng (P <0,05).

3 Thảo luận

Gây tê ngoài màng cứng là một chương trình gây mê có tác dụng giảm đau tốt hơn, đã được thực hiện rộng rãi trong các ca mổ lấy thai. Tuy nhiên, những biến chứng thường gặp như đau và ớn lạnh sau mổ luôn là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng gây mê mổ lấy thai và cũng là tâm điểm chú ý của các bác sĩ gây mê hồi sức lâm sàng.

Có nhiều lý do gây lạnh chu phẫu, chẳng hạn như tưới nước muối lạnh, truyền dịch trong phẫu thuật, khử trùng vết mổ, môi trường trong nhà, chảy máu nhiều. Trong trường hợp bình thường, hiện tượng rét run không thể tách rời với sự giảm nhiệt độ cơ thể sau khi gây mê, có thể nói rét run là một phản ứng sinh lý sau khi gây mê. Ngoài ra, thuốc mê có liên quan mật thiết đến sự xuất hiện của cảm giác ớn lạnh. Đau do kéo chủ yếu là do thiếu mặt phẳng gây tê trong ống sống, không thể triệt tiêu hoàn toàn phản ứng của lực kéo. Ớn lạnh và đau do dao kéo cực kỳ bất lợi cho sức khỏe và tiên lượng của bệnh nhân mổ lấy thai, vì vậy cần lựa chọn biện pháp phòng ngừa hiệu quả để đảm bảo chất lượng sản phụ sinh.

Sufentanil là một dẫn xuất của fentanyl và là một loại thuốc tan trong chất béo có tác dụng giảm đau mạnh. Một số dữ liệu cho thấy sau khi tiêm sufentanil vào khoang ngoài màng cứng, thuốc sẽ khuếch tán sang một bên đầu và các hoạt chất trong nó có thể liên kết với các thụ thể opioid của trung tâm cao hoặc tủy sống, vì vậy nó có tác dụng giảm đau mạnh. . Đồng thời, sufentanil có thể làm hưng phấn trung khu thần kinh giao cảm, tăng cường giải phóng norepinephrine và epinephrine, từ đó giảm tỷ lệ ớn lạnh dưới tác động của hormone, tăng cường cơ chế sinh nhiệt trong cơ thể.

Nhiều nghiên cứu dữ liệu đã phát hiện ra rằng sufentanil liều thấp phục hồi nhanh chóng, ít ảnh hưởng đến huyết động, và có thể làm giảm tỷ lệ đau do lực kéo và ớn lạnh một cách hiệu quả. [2]. Kết quả nghiên cứu trong bài báo này về cơ bản phù hợp với kết quả trên, tỷ lệ đau do lực kéo ở nhóm nghiên cứu sử dụng sufentanil liều thấp là 28,00%, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng là 56,00% (P <0,05) ; nhóm nghiên cứu rùng mình Tỷ lệ mắc bệnh là 12,00%, thấp hơn đáng kể so với 40,00% ở nhóm đối chứng (P <0,05). Có thể thấy rằng sufentanil liều thấp có thể ngăn chặn hiệu quả cảm giác ớn lạnh và đau do kéo trong quá trình gây mê mổ lấy thai, và thích hợp để thúc đẩy lâm sàng.

Mạng Tạp chí Giáo dục http://www.jyqkw.com
người giới thiệu

[1] Liu Su, Martin Lei, Yang Xiaorui, v.v. Hiệu quả lâm sàng của sufentanil liều thấp trong việc ngăn ngừa ớn lạnh và đau do kéo khi gây mê mổ lấy thai[J]. Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em Trung Quốc, 2014, 29 (3): 475-477.

[2] Fan Wenfeng, Jiang Jianping, Zhong Donghai và cộng sự. Quan sát lâm sàng về sufentanil liều thấp trong việc ngăn ngừa ớn lạnh và đau do kéo khi gây mê mổ lấy thai[J]Y học Trùng Khánh, 2013, 42 (2): 195-197.

Chúc các bạn đọc tin truc tiep bong da tv vui vẻ!