truc tiep bong da sieu muot

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 18/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về truc tiep bong da sieu muot

ket qua bong da hôm nay

Hu Junfeng Wang Qiang Qiu Qiuping Chen Ying

Khoa Gây mê, Bệnh viện Bắc Kinh Huairou, Bắc Kinh 101400

【Tóm tắt】 Mục tiêu: Phân tích ứng dụng của định vị kích thích thần kinh kết hợp hướng dẫn bằng sóng siêu âm (Mỹ) và định vị dị vật truyền thống (TS) trong khối đám rối thần kinh cánh tay nách. Phương pháp: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 1 năm 2015, 80 bệnh nhân phẫu thuật chi trên với khối đám rối thần kinh cánh tay nách được chia ngẫu nhiên thành nhóm TS (40) và nhóm Hoa Kỳ (40). hai nhóm. Kết quả: Tỷ lệ thành công khối là 100,00% ở nhóm Hoa Kỳ, 75,00% ở nhóm TS, và nhóm Hoa Kỳ cao hơn đáng kể so với nhóm TS (P <0,05).

Ở nhóm Mỹ không xảy ra tai biến, ở nhóm TS có 1 trường hợp chấn thương thần kinh, 2 trường hợp ngộ độc thuốc gây tê tại chỗ, 3 trường hợp tụ máu cục bộ. Kết luận: Dưới hướng dẫn của siêu âm, phẫu thuật cắt đám rối thần kinh cánh tay nách khởi phát nhanh, thời gian ngắn và hiệu quả rõ rệt, có giá trị ứng dụng trên lâm sàng.

Mạng Tạp chí Giáo dục http://www.jyqkw.com
Từ khóa hướng dẫn siêu âm; đám rối thần kinh cánh tay nách; gây mê

1 Vật liệu và phương pháp

1.1 Thông tin

Tổng số 80 bệnh nhân có đám rối thần kinh cánh tay ở nách được phẫu thuật chi trên từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 1 năm 2015 được chọn và chia ngẫu nhiên thành nhóm TS (40) và nhóm Hoa Kỳ (40). ASAI là nhóm I-III, không có tiền sử gây tê cục bộ. dị ứng, rối loạn chức năng đông máu và các bệnh thần kinh. Vị trí phẫu thuật chính là ngón tay, lòng bàn tay, thành trước và khuỷu tay. Trong nhóm TS có 10 nữ và 30 nam, tuổi từ 19 đến 69, trung bình (43,22 ± 6,32) tuổi, trọng lượng cơ thể từ 41kg-84kg, trung bình là (65,33 ± 10,45) kg . Ở Mỹ, có 18 nữ và 22 nam, từ 20-72 tuổi, trung bình (44,65 ± 6,32) tuổi, nặng 45kg-86kg, trung bình (66,43 ± 11,42) kg. So sánh các số liệu chung như tuổi và giới của hai nhóm bệnh nhân P> 0,05 không có ý nghĩa thống kê nhưng có mức độ so sánh nhất định.

1.2 phương pháp

Ba mươi phút trước khi phẫu thuật, bệnh nhân được tiêm bắp 0,2 mg natri, sau khi vào phòng, tĩnh mạch được mở và tiêm midazolam 0,1 mg / kg để an thần. Quá trình phẫu thuật mô được thực hiện dưới sự giám sát. Đưa bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, nghiêng đầu sang bên đối diện, gập khuỷu tay, chếch chi bị tổn thương 90 °, xoay thành trước ra ngoài và dán mu bàn tay xuống giường. điểm là điểm cao nhất của dao động động mạch nách. Các bệnh nhân trong nhóm tại Hoa Kỳ đã sử dụng thiết bị định vị siêu âm iLOOK-25 do Sonosite của Hoa Kỳ sản xuất và tần số được đặt thành 5MHz-10MHz để quét đám rối thần kinh cánh tay ở nách và các mô xung quanh. Màn được khử trùng định kỳ. Đầu dò siêu âm được đặt vào ống niêm phong vô trùng. Đầu dò đi vuông góc với động mạch. Quan sát dây thần kinh và động mạch trên mặt cắt Tìm thân thần kinh đích giảm âm Dùng kim kích thích thần kinh. Góc đâm kim là mặt ngoài của đầu dò siêu âm. Dưới hướng dẫn hình ảnh siêu âm, độ sâu và góc của kim được điều chỉnh, máy kích thích thần kinh được bật và tiêm thuốc gây tê cục bộ. Ở nhóm TS, một kim vát ngắn được sử dụng để đưa kim vào vị trí giải phẫu, độ sâu và góc của kim được điều chỉnh, đồng thời tiêm thuốc tê tại chỗ khi có cảm giác bất thường. Cả hai nhóm đều được dùng 30ml ropivacain 0,4%.

1.3 Đánh giá tác dụng gây mê

Trong lúc mổ không đau, không dùng thêm thuốc bổ trợ, tuyệt vời, khi mổ bệnh nhân hơi đau nhưng có thể chịu được, cần bổ sung một ít thuốc giảm đau là tốt. ; trong quá trình phẫu thuật, bệnh nhân không thể chịu được đau, Cần phải thay đổi phương pháp gây mê, tức là gây mê thất bại. Tỷ lệ thành công và biến chứng của gây mê giữa hai nhóm được so sánh.

1.4 Phân tích thống kê

Phân tích thống kê dữ liệu thông qua phần mềm spss13.0, dữ liệu đếm thông qua thử nghiệm X2, được biểu thị bằng phần trăm và dữ liệu đo lường thông qua thử nghiệm t, được biểu thị bằng P <0,05, có ý nghĩa thống kê.

2 kết quả

2.1 So sánh tác dụng của gây tê phong bế thần kinh giữa hai nhóm

Tỷ lệ thành công khối là 100,00% ở nhóm Mỹ và 75,00% ở nhóm TS, nhóm Mỹ cao hơn nhóm TS có ý nghĩa thống kê, X2 = 11,429, P <0,05, có ý nghĩa thống kê. Sự so sánh về tác dụng của gây tê phong bế thần kinh giữa hai nhóm được thể hiện trong Bảng 1.

2.2 So sánh các biến chứng giữa hai nhóm

Ở nhóm Mỹ không xảy ra tai biến do thuốc mê, ở nhóm TS có 1 trường hợp bị chấn thương thần kinh, 2 trường hợp ngộ độc thuốc gây tê tại chỗ, 3 trường hợp tụ máu cục bộ.

3 Thảo luận

Trong bài báo này, đầu dò siêu âm tần số 5MHz-10MHz có thể quan sát mạch máu, dây thần kinh và cơ vùng nách, thuận tiện cho việc dẫn đường chọc dò, thời gian thao tác và thời gian xác định vị trí dây thần kinh đích được rút ngắn đáng kể. Ngoài ra, vị trí của đầu kim có thể được điều chỉnh dưới hướng dẫn của siêu âm để đảm bảo rằng thuốc gây tê cục bộ được thẩm thấu xung quanh dây thần kinh, khởi phát nhanh, chặn hoàn toàn và thời gian tác động lâu hơn, với tỷ lệ thành công cao hơn. Siêu âm định vị là công nghệ mới, bác sĩ gây mê không chỉ cần nắm vững hình ảnh giải phẫu mặt cắt siêu âm mà còn cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và mắt. Nhóm này chủ yếu được kết hợp với định vị máy kích thích thần kinh dưới hướng dẫn của siêu âm Kết quả cho thấy tỷ lệ cắt khối thành công là 100,00% ở nhóm Mỹ và 75,00% ở nhóm TS. Nhóm Mỹ cao hơn nhóm TS một cách có ý nghĩa (P <0,05) . Ở nhóm Mỹ không xảy ra tai biến, ở nhóm TS có 1 trường hợp chấn thương thần kinh, 2 trường hợp ngộ độc thuốc tê tại chỗ, 3 trường hợp tụ máu cục bộ. Điều này cho thấy việc áp dụng hướng dẫn siêu âm kết hợp với định vị kích thích thần kinh trong khối đám rối thần kinh cánh tay có ít biến chứng hơn, khởi phát nhanh, cải thiện đáng kể độ chính xác và tỷ lệ thành công của khối, và thời gian duy trì lâu hơn, an toàn và đáng tin cậy và có giá trị ứng dụng lâm sàng.

Mạng Tạp chí Giáo dục http://www.jyqkw.com
người giới thiệu

[1]Peng Hao, Chen Huali. Hiệu quả lâm sàng của khối đám rối thần kinh trung ương có hướng dẫn bằng siêu âm ở bệnh nhân béo phì[J].Practical Clinical Medicine, 2011,12 (01): 133-135.

[2]Mou Rong, Wang Yegui. Ứng dụng định vị bằng sóng siêu âm trong khối đám rối thần kinh trung tâm cơ ở bệnh nhân béo phì[J].Shanghai Medicine, 2011,34 (08): 1154-1157.

Giới thiệu về tác giả

Hu Junfeng (1984-), nam, cử nhân. Hiện đang làm việc tại Khoa Gây mê, Bệnh viện Bắc Kinh Huairou. Hướng nghiên cứu là ứng dụng siêu âm trong phẫu thuật chỉnh hình.

Chúc các bạn đọc tin truc tiep bong da sieu muot vui vẻ!